Dalat thành phố hoa, ai từng nghe đến cái tên Dalat đều biết điều đó, nhưng dọc những con đường giữa trung tâm Dalat người ta chẳng mấy khi gặp hoa. Những cây anh đào, người Dalat gọi là mai, bên hồ Xuân Hương hay dọc dốc Hòa Bình nhìn quặt quẹo đến tội nghiệp, không hiểu vì thiếu sự chăm sóc hay vì khói bụi xe máy.
Từ Phan Thiết lên Đà Lạt mất khoảng 4h đồng hồ, có 3 đường lên Đà Lạt. Đến đèo Prenn, đã cảm nhận được không khí đặc trưng của Đà Lạt với bạt ngàn rừng thông và không khí bắt đầu mát mẻ nhiệt độ chỉ khoảng 18-22 độ. Đà Lạt thật đẹp với những công viên, hồ nước nằm giữa trung tâm thành phố, những biệt thự nằm bên các sườn đồi thấp thoáng trong các rừng thông, và đi đâu cũng thấy Hoa, hoa có khắp mọi nơi, trong công viên, trên đường phố, trên tường rào những ngôi nhà. Thời tiết mát mẻ có phần hơi lạnh cũng là đặc trưng của Đà lạt, làm cho người ta gần nhau hơn, buổi tối ra chợ Đêm với nhiều món nướng như Bánh xèo, nem nướng...và đặc biệt có món chè nóng chắc chỉ nơi đây mới có, trời lạnh mà được cốc chè đậu xanh, đen... nóng thấy thật ấm lòng, uống đến đâu biết đến đó. Ngồi giữa Đà lạt lại nhớ cái lạnh của mùa Đông Hà Nội. Món trà Astiso cũng là 1 món uống ưa thích ở ĐL. Đà lạt còn đẹp hơn nữa nếu như không có những khối nhà chia lô nằm san sát ở Trung tâm thành phố những phô Hoà Bình, Bùi Thị Xuân... chẳng khác gì các thành phố lớn như SG, HN. "Thành phố Đà Lạt nằm giữa cao nguyên Lang Biang, trên bình độ 1.500 mét so với mực nước biển, khí hậu ôn hòa với nhiệt độ trung bình từ 18 – 20°C, thổ nhưỡng tốt tươi, thật phù hợp với sự sinh trưởng của mọi loài thực vật.
Vùng đất mộng mơ với muôn vàn đồi núi chập chùng giữa Trường Sơn hùng vĩ được mệnh danh là “vương quốc của các loài hoa” và thật xứng với tên gọi đó. Có thể nói, không ở đâu trên đất nước ta lại có nhiều chủng loại hoa như ở thành phố này. Hoa khắp mọi miền, hoa Đông phương và Tây phương tụ hội. Hoa dại, hoa rừng khoe sắc cùng hoa nhà vườn của nông dân và hoa sản xuất bằng công nghệ cao cấp của các công ty kinh doanh hoa xuất khẩu. Kể tên các loài hoa, nhắc nhở về cội nguồn hơn một trăm năm qua, hãy tịnh tâm cảm xúc nguyên sơ cho những cánh hoa rừng. Trong những khu rừng ven bờ suối vắng, dưới tán thông tao mặc, trên đỉnh Lang Biang hay ven suối Đatănla là sự trong trắng, tinh khôi của những loài hoa mai anh đào, lan, đỗ quyên, bướm bạc. Trong những ngày đầu lập phố, những người dân xa xứ đã đưa những cây mai anh đào từ núi rừng về trồng lên những con đường mới mở cho đỡ quạnh vắng trong nỗi nhớ quê hương. Từ ấy, hàng năm cứ độ vào Xuân, người Đà Lạt và du khách lại chuẩn bị đếm tuổi mình khi những nụ anh đào chúm chím. Anh đào khoe sắc, phô sức sống và trút lá khẳng khiu theo đặc tính của loài thực vật ôn đới. Đà Lạt là xứ sở của hoa lan. Thành phố và vùng ven có hơn 200 loài lan, trong đó có 5 loài mới được phát hiện lần đầu trên thế giới và mang tên Đà Lạt. Từ những thân cây sống cộng sinh, hoa lan được người chơi lan nhân giống bằng củ và đem bán ở các thị trường trong nước và quốc tế. Hoa lan tượng trưng cho sự thành thật, và một huyền thoại cao nguyên đã mệnh danh cho lan là những mảnh hồn trinh nữ giữa rừng sâu. Lan Đà Lạt có nhiều loại quý hiếm như cẩm bào, giáng hương, vanda parishii odorata…nhưng nổi tiếng nhất vẫn là địa lan. Hiện nay, Đà Lạt có hơn 30 loài địa lan, loại hoa “tín nghĩa” này có giá trị xuất khẩu rất cao nên ở đã có nhiều vườn chuyên canh lan có quy mô lớn mà trang trại Lang Biang ở phường 7 là một ví dụ. Do lịch sử hình thành và phát triển thành phố, nên ở Đà Lạt có nhiều loại hoa xuất xứ từ phương Tây đến. Cho đến nay, những loài hoa đến từ quê hương xa xôi này vẫn được mang tên gọi khởi thuỷ: marguerite, lys, glaieul, mimosa…Một số khác được mang hai, ba tên gọi khác nhau như: pensée (tư tưởng, học trò), œillet (cẩm chướng), comos (bươm bướm), arum (cuộn kèn)…Mặc dù có nguồn gốc từ châu Phi, châu Âu hay Mỹ La Tinh, nhưng một số loài hoa đã hoàn toàn mang tên Việt. Có thể kể : sen cạn, hoàng anh, thựơc dược, dạ hợp, thu hải đường. Hoa phương Đông trên đất Đà Lạt cũng trăm hồng ngàn tía. Người phương Đông kín đáo, dịu dàng, thâm trầm, tế nhị, “hữu xạ tự nhiên hương”. Trong đêm, chợt bừng thức bởi mùi hương dịu dàng của dạ lan, lài hay hồng. Tại các vườn hoa trong thành phố, sân chùa hay sân vườn cư dân ở Đà Lạt có thể thấy màu hồng của anh đào, tường vi, màu tím của cúc, màu vàng của thiên lý, màu đỏ của râm bụt, màu trắng của huệ, rồi sứ, trà mi, nhất chi mai…Hoa hồng có nguồn gốc từ Trung Đông, nhưng ở Đà Lạt nhiều giống hồng lại mang tên phương Tây: Brigitte Bardot – màu hồng như môi son, Silver – màu tím lợt, America – màu đỏ, Kennedy – màu vàng, Grace Monaco mang màu hồng phấn…" "Đà Lạt xấu xí Buổi tối lang thang trên mạng và tình cờ lạc vào một phố hoa, tôi bất chợt nhớ về Dalat. Lần về VN vừa rồi tôi không có dịp trở về thành phố tuổi thơ của mình, nhưng những điều từ Dalat tôi đã mang đi theo từ lần ghé về cách đây chưa đầy năm vẫn còn nguyên vẹn. Nếu bạn chưa một lần đến Dalat tôi khuyên bạn đừng bao giờ lên thành phố cao nguyên này, có lẽ bạn sẽ ngạc nhiên vì lời khuyên của tôi, nhưng quả thật tôi không muốn bạn lại như tôi, 10 năm sau khi bạn quay lại Dalat lần thứ hai bạn sẽ thất vọng vì Dalat của 10 năm sau không còn là Dalat của ngày lần đầu bạn đặt chân đến. Lý do đơn giản, tất cả những gì thuộc về quá khứ dường như bao giờ cũng đẹp hơn, đẹp hơn rất nhiều, và tôi, hình như tôi thuộc típ người hoài cổ, hoài cổ một cách hơi quá thái. Thành phố vẫn trong vòng xoáy của sự phát triển, dù nhanh, dù chậm. Ngày xưa người Dalat còn vất vả, thành phố còn nhiều những ngôi nhà bằng gỗ thông. Tôi yêu những căn nhà ấy, những căn nhà bạc thếch màu sơn, những căn nhà còn thơn mùi nhựa thông, vì những căn nhà ấy tạo cho tôi một cảm giác gần gũi với rừng. Giờ cuộc sống khá lên người ta đã tháo bỏ những căn nhà gỗ ấy và xây cho mình những ngôi nhà kiên cố, những ngôi nhà bằng xi măng, sắt, thép. Tôi vẫn biết trong những ngôi nhà xi măng sắt thép ấy người ta sẽ không còn phải mất ngủ vì những cơn mưa đập vào mái tôn suốt cả đêm, người ta không còn phải sợ những cơn gió lạnh mùa đông luồn qua khe gỗ, người ta không còn lo lắng chống đỡ những cơn bão gió giật ầm ầm muốn bay cả mái nhà, hay vơi hẳn đi những nỗi lo thần lửa. Trong những căn nhà ấy giờ đây là sự bình yên, sự no ấm. Không hiểu sao khi nghĩ về sự bình yên ấy tôi lại liên tưởng đến một sự cân bằng không bền, như một hòn bi, chỉ cần đụng đến là lăn. Có thể tôi sai, nhưng tôi vẫn thích những căn nhà gỗ ấy. Thành phố ngày xưa nhà không chen chúc như bây giờ, trừ ở hai con đường Nguyễn Văn Trỗi và Phan Đình Phùng nhà cửa san sát, những con đường khác đa phần chỉ có những căn nhà nho nhỏ, một hai tầng, với những góc sân, khoảng vườn và bờ giậu dâm bụt, dạ lý hương hay cúc quỳ xinh xắn.
Đọc thêm »


0 Nhận xét